Báo cáo sơ kết học kì 1 của giáo viên chủ nhiệm và tổ chuyên môn: khung viết, số liệu cần có
Báo cáo sơ kết học kì 1 là việc giáo viên chủ nhiệm (GVCN) và tổ trưởng chuyên môn thường phải nộp vào cuối học kì I. Số liệu nằm rải ở sổ điểm, phần mềm của trường và sổ ghi chép, còn mẫu thì mỗi nơi một kiểu. Bài này nói rõ quy định có yêu cầu gì, báo cáo nên có những phần nào, số liệu lấy ở đâu và viết sao cho cụ thể thay vì “các em học tập tích cực”.
Cách tính điểm trung bình môn và xếp mức học tập xem ở bài Cách tính điểm trung bình môn, xếp loại học sinh. Lời nhận xét từng em xem ở bài Lời nhận xét học bạ THCS theo Thông tư 22 và bài Nhận xét môn học theo Thông tư 22.
Quy định nói gì về báo cáo sơ kết học kì 1
Điểm đầu tiên cần biết: Bộ Giáo dục và Đào tạo không ban hành mẫu báo cáo sơ kết học kì chung cho GVCN hay tổ chuyên môn. Trong các văn bản đã tra, Thông tư 22/2021 (THCS, THPT) và Thông tư 27/2020 (tiểu học) quy định cách đánh giá, xếp mức và ghi sổ, học bạ, không quy định biểu mẫu báo cáo sơ kết. Mẫu và hạn nộp do trường, đôi khi do phòng giáo dục hoặc sở quy định, nên thầy cô cần đối chiếu với hướng dẫn của trường trước khi làm.
Những căn cứ liên quan trực tiếp:
- Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT: GVCN tổng hợp kết quả trong sổ và học bạ, đánh giá rèn luyện từng học kì, lập danh sách học sinh lên lớp, kiểm tra lại, rèn luyện hè và khen thưởng, đồng thời thông báo riêng cho cha mẹ học sinh về kết quả (Thư viện Pháp luật). Đây là phần việc tạo ra số liệu cho báo cáo.
- Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT (Điều lệ trường tiểu học, THCS, THPT): theo khoản 2 Điều 26 (đã đối chiếu bản gốc; bản tóm tắt tại Cổng luật Việt), GVCN có nhiệm vụ tổng hợp nhận xét, đánh giá học sinh cuối học kì I và cuối năm học, và “báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với hiệu trưởng” (Điều 26). Tổ chuyên môn sinh hoạt ít nhất 1 lần trong 2 tuần (Điều 13). Điều 13 không nêu mẫu báo cáo sơ kết nào cho tổ chuyên môn.
- Hồ sơ theo Điều 21 Thông tư 15/2026: giáo viên chủ nhiệm có sổ chủ nhiệm, tổ chuyên môn có sổ ghi chép nội dung các hoạt động của tổ; hồ sơ chủ yếu quản lý dạng điện tử, đã dùng bản điện tử hợp pháp thì không bắt buộc lập bản giấy (Giáo dục Việt Nam).
- Công văn 5922/BGDĐT-GDPT (đầu tháng 9/2026): theo báo Báo Pháp luật, Bộ yêu cầu không tự đặt thêm hồ sơ, sổ sách, biểu mẫu, báo cáo, minh chứng khi không có căn cứ pháp lý hoặc không thực sự cần thiết, không yêu cầu báo cáo lại số liệu đã có trên cơ sở dữ liệu dùng chung của ngành, và cắt giảm họp hành chính không cần thiết.
Ghép lại, báo cáo sơ kết nên ngắn, lấy đúng số liệu đã có trong sổ điểm và học bạ, không tạo thêm một bộ số liệu thứ hai. Ngày nộp thì tuỳ trường: khung kế hoạch năm học 2026–2027 (Quyết định 2308/QĐ-BGDĐT) quy định học kì I có 18 tuần và kết thúc trước ngày 18/1, lịch cụ thể do tỉnh và trường quyết định (Giáo dục Việt Nam).
Lưu ý về nguồn: các điều khoản của Thông tư 15/2026 (Điều 13, 21, 26) và Công văn 5922 ở trên đã được đối chiếu với bản PDF văn bản gốc. Mẫu và hạn nộp báo cáo cụ thể do trường quy định, thầy cô xem hướng dẫn của trường trước khi nộp.
Báo cáo của giáo viên chủ nhiệm gồm những phần nào
Khung dưới đây gồm 6 phần, vừa một trang A4 đến hai trang. Cột bên phải cho biết số liệu nằm ở đâu để không phải đếm lại bằng tay.
| Phần | Nội dung | Số liệu lấy ở |
|---|---|---|
| 1. Sĩ số | Sĩ số đầu kì, cuối kì; em chuyển đến, chuyển đi, bỏ học (nếu có), kèm lí do | Danh sách lớp, sổ chủ nhiệm |
| 2. Kết quả học tập | Số học sinh mức Tốt, Khá, Đạt, Chưa đạt (THCS, THPT); Hoàn thành tốt, Hoàn thành, Chưa hoàn thành (tiểu học) | Bảng tổng hợp học kì I |
| 3. Kết quả rèn luyện | Số học sinh mức Tốt, Khá, Đạt, Chưa đạt (THCS, THPT) | Bảng tổng hợp, sổ chủ nhiệm |
| 4. Chuyên cần | Tổng số buổi nghỉ của lớp, số em nghỉ nhiều | Sổ theo dõi nghỉ học |
| 5. Học sinh cần quan tâm | Tối đa 5 em, mỗi em một dòng: môn hoặc mặt cần hỗ trợ và việc đã, sẽ làm | Bảng điểm từng môn, rèn luyện, nghỉ học |
| 6. Phối hợp và kiến nghị | Làm việc với phụ huynh, giáo viên bộ môn; việc cần nhà trường hỗ trợ; kế hoạch học kì II | Ghi chép của GVCN |
Phần 2 và 3 viết bằng số, không viết bằng tính từ. Phần 5 chỉ nêu tên em và môn, không ghi hoàn cảnh gia đình hay đặc điểm cá nhân: báo cáo gửi tổ, ban giám hiệu có thể được chuyển tiếp, và thông tin về học sinh chỉ nên dùng đúng mục đích quản lý, giáo dục.
Đọc số liệu cho đúng trước khi đưa vào báo cáo
Một lỗi dễ gặp là báo cáo học sinh giỏi, khá, trung bình theo điểm trung bình chung các môn, tức cách của quy chế cũ. Mức học tập THCS, THPT hiện xét theo Điều 9 Thông tư 22, tóm tắt như sau:
| Mức | Môn đánh giá bằng nhận xét | Môn tính điểm |
|---|---|---|
| Tốt | Tất cả Đạt | Tất cả từ 6,5 trở lên, ít nhất 6 môn từ 8,0 trở lên |
| Khá | Tất cả Đạt | Tất cả từ 5,0 trở lên, ít nhất 6 môn từ 6,5 trở lên |
| Đạt | Nhiều nhất 1 môn Chưa đạt | Ít nhất 6 môn từ 5,0 trở lên, không môn nào dưới 3,5 |
| Chưa đạt | Các trường hợp còn lại | Các trường hợp còn lại |
Không còn điểm trung bình chung các môn và không còn điều kiện riêng cho Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ. Bảng trên là bản tóm tắt để đọc nhanh. Điều 9 còn có quy định điều chỉnh lên mức liền kề trong một số trường hợp (khoản 3), thầy cô xem toàn văn ở Thông tư 22/2021 khi cần xác định từng em. Với tiểu học, mức Hoàn thành tốt, Hoàn thành, Chưa hoàn thành theo Thông tư 27/2020.
Hai việc nữa trước khi nộp: số liệu trong báo cáo phải khớp với bảng điểm đã chốt và học bạ (nhất là khi có em được sửa điểm sau khi giáo viên bộ môn xác nhận), và tỉ lệ phần trăm đã làm tròn có thể cộng lại lệch 1–2% (bảng ở phần dưới là một ví dụ), thầy cô ghi chú “đã làm tròn” hoặc ghi cả số em.
Lấy số liệu từ Sổ điểm lớp trong vài phút
Sổ điểm lớp của Hộp AI là sổ điểm theo Thông tư 22, 27 và 89: giáo viên bộ môn nhập điểm, sổ tự tính điểm trung bình môn, xếp mức học tập và rèn luyện. Phần dưới dùng lớp mẫu 7A9 với 8 học sinh, tên và điểm là dữ liệu giả để minh hoạ, không phải học sinh thật.
Bước 1: Tab Tổng hợp, chọn Học kì I
Tab Tổng hợp hiện bảng cả lớp: điểm từng môn, mức học tập, rèn luyện và số buổi nghỉ. Ở lớp mẫu, 8 em xếp 3 Tốt, 3 Khá, 1 Đạt, 1 Chưa đạt. Số nhỏ dưới tên mỗi môn cho biết bao nhiêu em đã đủ điểm (ở đây 8/8), nên thầy cô biết còn thiếu điểm môn nào trước khi lấy số.

Bước 2: Tab Phân tích, đọc điểm trung bình theo môn
Tab Phân tích cho biểu đồ phân bố mức học tập và bảng các môn xếp từ yếu đến mạnh: điểm trung bình lớp, số em dưới 5,0 và số em từ 8,0. Đây là phần tổ trưởng và GVCN cần nhất để viết nhận xét “môn nào lớp còn yếu”. Ở lớp mẫu, Ngữ văn và Lịch sử và Địa lí cùng 6,8 là hai môn thấp nhất; Tin học 7,8 cao nhất. Môn đánh giá bằng nhận xét hiện riêng bên dưới, ví dụ Giáo dục thể chất có 1 em Chưa đạt. Cuối tab là danh sách học sinh cần quan tâm kèm lí do.

Bước 3: Xuất báo cáo lớp
Trong tab Tổng hợp, mục Báo cáo lớp xuất học kì đang chọn thành văn bản gồm: tổng hợp mức học tập và rèn luyện, tổng số buổi nghỉ, kết quả từng môn, học sinh cần quan tâm và hướng hỗ trợ. Tải được dạng PDF; bản Word và Bảng Excel dành cho gói Pro (xem bảng giá). Cuối báo cáo có dòng nhắc GVCN kiểm tra trước khi trình ký, vì số liệu chỉ đúng khi điểm trong sổ đã nhập đủ và đúng.
Sổ điểm lớp chỉ liệt kê em vào diện cần quan tâm khi có căn cứ trong số liệu: môn dưới 5,0 hoặc Chưa đạt, rèn luyện Chưa đạt, hoặc nghỉ từ 15 buổi trở lên trong học kì. Việc em đó cần gì, làm thế nào là phần GVCN tự viết; công cụ chỉ gợi ý hướng chung.
Từ số liệu đến đoạn báo cáo cụ thể
Số liệu học kì I của lớp mẫu 7A9 (8 học sinh, dữ liệu giả), điền vào bảng báo cáo:
| Mức | Học tập | Rèn luyện |
|---|---|---|
| Tốt | 3 em (38%) | 3 em (38%) |
| Khá | 3 em (38%) | 3 em (38%) |
| Đạt | 1 em (13%) | 2 em (25%) |
| Chưa đạt | 1 em (13%) | 0 em |
| Tổng | 8 em (tỉ lệ đã làm tròn) | 8 em |
Viết thành câu, so sánh hai cách:
| Cách viết chung chung | Cách viết cụ thể |
|---|---|
| Các em học tập tích cực, kết quả khá tốt. | Học kì I, 6 trên 8 em (75%) đạt mức Tốt hoặc Khá; 1 em Chưa đạt, 1 em Đạt. |
| Một số môn còn yếu. | Ngữ văn và Lịch sử và Địa lí có điểm trung bình lớp thấp nhất (cùng 6,8); mỗi môn 1 em dưới 5,0. |
| Có em nghỉ học nhiều. | Cả lớp nghỉ 15 buổi, bình quân 1,9 buổi mỗi em; 1 em nghỉ 6 buổi. |
| GVCN đã quan tâm học sinh yếu. | Đã gặp phụ huynh em A (mức học tập Chưa đạt) hai lần, phối hợp giáo viên Toán và Ngữ văn phụ đạo 1 buổi mỗi tuần từ tháng 12. |
Hàng cuối là ví dụ về cách viết phần việc đã làm: nêu việc, số lần, thời điểm. Phần việc này công cụ không thay được, vì chỉ GVCN biết mình đã làm gì.
Báo cáo của tổ chuyên môn
Tổ trưởng báo cáo khác GVCN ở chỗ nhìn theo môn và theo giáo viên, không theo từng lớp. Khung gợi ý:
- Nhân sự và kế hoạch: số giáo viên, số lớp, số tiết thực hiện so với kế hoạch dạy học.
- Kết quả theo môn: bảng điểm trung bình, số học sinh từ 6,5 và từ 8,0, số học sinh dưới 5,0 theo khối lớp hoặc theo lớp.
- Hoạt động chuyên môn: sinh hoạt chuyên môn (số buổi, chủ đề), dự giờ, nghiên cứu bài học, ứng dụng công nghệ và AI trong dạy học. Công văn 4069/BGDĐT-GDPT ngày 01/7/2026 về sinh hoạt chuyên môn nhấn mạnh không hành chính hoá hoạt động này (Giáo dục Việt Nam).
- Nguyên nhân, giải pháp học kì II: môn, khối còn yếu và việc tổ sẽ làm, có người phụ trách và thời hạn.
Số liệu theo môn là phần mất nhiều thời gian nhất vì mỗi giáo viên giữ bảng điểm riêng. Sổ điểm lớp tính theo từng lớp chủ nhiệm: bảng “Các môn của lớp” ở tab Phân tích cho điểm trung bình, số em dưới 5,0 và từ 8,0 của mỗi môn trong lớp đó. Tổ trưởng muốn có số liệu cả khối thì lấy bảng của từng lớp rồi cộng, hoặc xuất Bảng Excel (gói Pro) để gộp. Công cụ không tự gộp nhiều lớp thành báo cáo của tổ.
| Môn | Lớp | Điểm TB | Dưới 5,0 | Từ 8,0 |
|---|---|---|---|---|
| Ngữ văn | 7A9 (mẫu) | 6,8 | 1 (13%) | 2 (25%) |
| Toán | 7A9 (mẫu) | 7,3 | 1 (13%) | 3 (38%) |
| Tin học | 7A9 (mẫu) | 7,8 | 0 (0%) | 4 (50%) |
Bảng trên chỉ minh hoạ dạng trình bày, lấy từ lớp mẫu giả. Báo cáo thật cần đủ các lớp tổ phụ trách và đúng số liệu đã chốt.
Những điểm nên tránh
- Tạo thêm bảng số liệu riêng: số liệu chỉ nên lấy từ sổ điểm, học bạ đã có. Làm bảng thứ hai dễ lệch và trái tinh thần Công văn 5922.
- Ước lượng số em: “khoảng 30 em” không dùng được khi hiệu trưởng đối chiếu với bảng tổng hợp.
- Ghi hoàn cảnh em trong báo cáo gửi tổ: chỉ nêu môn, mặt cần hỗ trợ và việc làm.
- Chép báo cáo năm trước: đổi tên lớp, mà quên đổi số liệu, tên giáo viên, tên môn, thời gian.
- Xếp mức theo cách cũ: đếm học sinh giỏi, khá, trung bình theo điểm trung bình chung các môn là cách của quy chế trước, không còn đúng với THCS, THPT theo Thông tư 22.
Dùng AI vào việc nào trong báo cáo sơ kết
AI làm được: soạn khung báo cáo, gợi ý cách diễn đạt, rút gọn đoạn dài, gợi ý hướng hỗ trợ cho nhóm học sinh. AI không làm được: biết lớp thầy cô đã làm gì, kiểm tra số liệu có khớp sổ hay không, quyết định em nào được xếp mức nào. Số liệu và nhận định cuối cùng phải do giáo viên kiểm tra và chịu trách nhiệm.
Nếu dùng chatbot ngoài, thầy cô nên bỏ họ tên học sinh và thông tin cá nhân khỏi nội dung gửi đi, chỉ gửi số liệu tổng hợp. Sổ điểm lớp có AI viết nháp nhận xét học sinh (tốn 2 điểm mỗi lượt); phần nhận xét đọc, sửa rồi mới lưu.
Đọc thêm: Họp phụ huynh cuối kì 1: quy định mới từ 15/11/2026, nội dung và mẫu biên bản, dùng cùng số liệu của báo cáo này.
Thầy cô đang nhập điểm học kì I? Sổ điểm lớp tính sẵn điểm trung bình môn, mức học tập, rèn luyện và xuất báo cáo lớp để đưa vào báo cáo sơ kết.
Câu hỏi thường gặp
Báo cáo sơ kết học kì I có mẫu chung của Bộ không?
Trong các văn bản đã tra (Thông tư 22/2021, Thông tư 27/2020, Thông tư 15/2026) không có mẫu báo cáo sơ kết học kì chung do Bộ ban hành. Mẫu và thời hạn nộp do trường, phòng giáo dục hoặc sở quy định, thầy cô theo hướng dẫn của trường.
Giáo viên chủ nhiệm có bắt buộc báo cáo với hiệu trưởng không?
Theo khoản 2 Điều 26 Thông tư 15/2026, GVCN có nhiệm vụ báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình lớp với hiệu trưởng và tổng hợp nhận xét, đánh giá học sinh cuối học kì I. Hình thức và thời điểm do nhà trường quy định.
Báo cáo sơ kết nên có bao nhiêu trang?
Không có quy định về độ dài. Với GVCN, một đến hai trang gồm sĩ số, kết quả học tập, rèn luyện, chuyên cần, học sinh cần quan tâm và kiến nghị là đủ. Công văn 5922 yêu cầu không đặt thêm báo cáo không cần thiết.
Số liệu học tập THCS lấy theo mức nào?
Theo Thông tư 22/2021, mức học tập gồm Tốt, Khá, Đạt, Chưa đạt, xét theo số môn đạt điểm trung bình từng ngưỡng và kết quả môn đánh giá bằng nhận xét, không xét theo điểm trung bình các môn như quy chế cũ.
Dùng AI để viết báo cáo sơ kết có được không?
Được dùng để soạn khung và chỉnh câu chữ. Số liệu phải lấy từ sổ điểm, học bạ và do giáo viên kiểm tra. Không đưa họ tên học sinh và thông tin cá nhân vào công cụ AI công cộng.
Nguồn: Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT (Thư viện Pháp luật); Thông tư 15/2026/TT-BGDĐT (Cổng luật Việt); Hồ sơ của tổ chuyên môn và giáo viên năm học 2026–2027 (Giáo dục Việt Nam); Công văn 5922/BGDĐT-GDPT (Báo Pháp luật); Khung kế hoạch thời gian năm học 2026–2027 (Giáo dục Việt Nam); Công văn 4069/BGDĐT-GDPT (Giáo dục Việt Nam).